TƯỞNG CHỪNG NHƯ ĐÃ

CHÌM VÀO QUÊN LÃNG.

NGUYỄN KHẮP NƠI – 08 12 2010
www.nguyenkhapnoi.com

Bia đá cho các Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa chết tại bãi biển Thuận An vào những ngày 25-26-27 tháng 3 năm 1975. Hình của Giao Chỉ SJ.

35 năm đã trôi qua lặng lẽ, cuộc chiến đấu của Quân Dân Miền Nam để bảo vệ Tự Do và Ton Vẹn Lãnh Thổ Miền Nam Việt Nam đã không còn nữa. Sau ngày 30 04 1978, Người Việt của Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ xứ đi tha phương khắp nơi trên thế giới.
Cuộc chiến của chúng ta hầu như đã chìm vào quên lãng.

Quên lãng là vì, đa số chúng ta còn phải kiếm sống hàng ngày, lo cho gia đình, con cái học hành . . .
Quên lãng là vì một số người trong chúng ta, vì miếng ăn mà quay trở lại làm tay sai cho bọn chúng . . .
Quên lãng là vì, một số người trong chúng ta, đã bùi tai vì những lời xúi dục: “Đừng nên làm chính trị, hãy làm từ thiện, giúp đồng bào nghèo khó . . .”
Có nhớ chăng chỉ còn là ở trong lòng của người dân Việt, mỗi khi ngày ngày 30 tháng 4 trở lại.
Nhưng, một sự kiện vừa mới xẩy ra, đã làm cho tôi cảm thấy thật là bồi hồi, xúc động.
Sự kiện này đà làm cho tôi và các chiến hữu của tôi cảm thấy thật là ấm lòng:
Cuộc Chiến giành Tự Do, độc lập của Quân Dân Miền Nam Việt Nam không bao giờ chấm dứt.
Những người Lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không bao giờ bị bỏ quên,
Những Thuơng Binh, Tử Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn được Người Dân Việt săn sóc chu đáo . . .
Cách đây vài ngày, tôi có nhận được một bài viết như sau:
“KHÔNG MỘT NẤM MỒ.
Tạp ghi của Huy Phương.
Mới đây việc đồng bào thôn An Dương thuộc quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 152 quân nhân VNCH bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975, đã gây lên niềm đau xót mà tưởng chừng như 35 năm nay đã ngủ yên trong quên lãng, không còn ai nhớ đến.
Tất cả đều bị vùi dập với đất cát, cỏ cây, qua thời gian, nắng gió, xương tàn cốt mục tan nát theo bùn đất. Ai còn nhớ đến họ?
Phải chăng người mẹ trước khi qua đời, vẫn còn mang nỗi đau về tin tức một đứa con ba mươi lăm năm nay biệt mù?
Phải chăng chỉ còn là di ảnh đã ố vàng của một người chồng trên bàn thờ, để nói với đàn con đó là người cha thuở trước?
Không bia mộ, không dấu vết, lặng lẽ, phai tàn và quên lãng.
Chiến tranh đã qua rồi, không chỉ một vài chục năm ngắn ngủi, mà đã một thời gian quá dài. Những đứa trẻ mới lớn lên không biết gì quá khứ, những ông già đã qua đời ở ngoài quê hương, ngậm ngùi vì những giấc mộng tàn phai. Ngày nay những hố bom đã được san bằng, đồn lũy đã mất dấu dành cho những nương khoai, trận địa ngày trước máu xương đã đem màu mỡ cho ruộng đồng xanh ngát.

Chiến tranh đã tàn khốc ác độc, mà giữa con người với con người cũng chẳng có lòng thương xót, ba mươi lăm năm rồi vẫn còn đối với nhau như kẻ thù không đội trời chung.
Những người ra đi đã trở về vui chơi, đi suốt chiều dài của đất nước, quên hết chiều dài khổ đau của trận chiến mà cha ông họ đã đóng góp máu xương.

Những người dân làng trên bãi biển Thuận An đã âm thầm chôn cất những người lính, người dân miền Nam nằm lại trên bãi biển, hay từ cơn sóng biển đưa vào, trong cơn vội vã, thương xót mà không hề bộc lộ. Rồi cơn sóng biển dập vùi, bão lụt tràn bờ, kéo xương cốt những người này trả lại cho trùng dương. Tưởng chừng những linh hồn uổng tử, oan khuất theo cơn gió giật, réo gọi, rên xiết trên những hàng dương oằn mình, run rẩy.”
Email gởi cho tôi, còn kèm theo bài viết của Giao Chỉ SJ, viết thay cho một người vợ linh, báo cáo với cấp chỉ huy về việc làm của những dân của làng An Dương, Quận Phú An, Tỉnh Thừa Thiên, Thành Phố Huế, hiện đang sống ở đó và ở khắp nơi trên thế giới.
Tôi xin được tóm tắt như sau:
“December 03, 2010
Báo Cáo Của Một Người Vợ Lính.
GIAO CHỈ SJ-ViệtTribune
Giao Chỉ viết theo lời cô Nguyễn Tố Thuận, Sacramento, qua điện thoại đêm 27/11/2010
Chị Nguyễn Tố Thuận, có chồng là một quân nhân Quân Cảnh của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Trung Sĩ Lê Văn Hội.
Vào những ngày di tản, hai vợ chồng bồng đứa con nhỏ mới 4 tháng đi xà lan vào Đà Nẵng. Chồng chị được tầu Hải Quân đón trở vào Thuận An, còn chị theo xà lan được kéo về Vũng Tầu. Sau tháng 4 1975, chị bồng con trở về Thuận An tìm chồng, được dân làng cho biết có tầu Hải Quân chìm ở đây, lính Cộng Hòa chết rất nhiều, dân chúng vớt xác được tổng cộng 132 xác, đem chôn ở nấm mồ tập thể tại đây. Chị đóan chừng anh Hội đã tử thương vì tầu chìm và đã thân xác anh đã được chôn chung trong nấm mồ tập thế đó.
5 năm sau, chị vượt biên tới Mỹ, lập gia đình với một Lính Biệt Kích của Quân Lực VNCH. Chị vẫn liên lạc với những người dân làng ở Việt Nam và ở mọi nơi trên thế giới.
Một thời gian sau, dân làng An Dương gởi thơ báo cho chi biết, ngôi mộ tập thể chôn Lính Miền Nam ngày xưa ngoài bãi biển, bây giờ bị bão tố vùi dập cần bốc mộ để dời vào phía trong đất liền. Nếu không, thì chẳng mấy chốc sẽ bị sóng đánh trôi hết ra biển.
Chị Tố Thuận liên lạc với tất cả dân Việt ở Mỹ, Canada gốc An Dương biết, kêu gọi họ gởi tiền về cho dân làng để lo việc bốc mộ, chị cũng đích thân trở về Việt Nam trực tiếp coi xóc công việc bốc mộ này. Với số tiền quyên góp được là US $7,000 cùng với phần đóng góp US $1,000 của chị Thuận, tổng cộng là US $8,000, dân chúng đã bốc hết hài cốt của 132 tử sĩ đem vào xâu trong đất liền, đào hố chôn và xây một nhà mồ với một mộ bia ghi rõ:

“PHỤNG VỊ
THẬP LOẠI CÔ HỒN, HIỂN HÁCH CHI MỘ”

Mặc dù 132 hài cốt đều là lính, nhưng dân làng chỉ thâu lại được có 13 tấm thẻ bài và một căn cước. Trong số này, chỉ có 8 tấm còn đọc được tên họ mang tên những quân nhân như sau:
NGUYỄN VĂN VÂN Sinh năm 1954
TIẾC DỤC Sinh năm 1955
TRẦN NGỌC ANH Sinh năm 1954
LÊ VĂN PHƯƠNG Sinh năm 1953
TRẦN VĂN ĐƯỢC Sinh năm 1954
ĐINH VĂN KIÊM Sinh năm 1943
NGÔ ĐẮC HÙNG Sinh năm 1955
NGUYỄN VĂN DỤC Sinh năm 1937

11 tấm thè bài còn xót lại trên 132 hài cốt của những Chiến Sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, tử trận vào những ngày 25-26 tháng 3 năm 1975 tại cửa biển Thuận An. (Hình của Giao Chỉ SJ)

Thẻ căn cước ghi tên HỒ THÀNH BẢY, sinh ngày 20/1/1931 tại Phong Dinh
Cha: Hồ Văn Miên, Mẹ: Nguyễn Thị Chon.
Địa chỉ: Xã Tân Bình,huyện Thủ Đức,tỉnh Gia Định.

(Sau khi tin tức phổ biến, thân nhân của tử sĩ Đinh văn Kiêm đã nhận được tin và hết sức xúc động. Đã 35 năm qua anh Kiêm mất tích, bây giờ người em – cũng là một Chiến sĩ QLVNCH – mới biết tin).

Hình lăng mộ 132 tử sĩ cải táng hoàn tất. Hình của Giao Chỉ SJ.

Công việc xây cất lăng mộ không phải dễ, nhưng chị Tố Thuận đã vượt qua được mọi trở ngại để hoàn tất việc cải táng. Chị đã kết thúc bức thơ bằng lời nói như sau:
“ . . . Nhưng em xin thưa với các cấp chỉ huy. gia đình vượt biên bằng con đò sông Hương mà qua được nước Tàu rồi vào nước Mỹ. Phúc đức như thế mà lo không xong ngôi mộ Lính Miền Nam chết tức tưởi ở cửa Thuận An thì đâu có xứng đáng làm vợ lính Saigon. Em nói vậy, cấp chỉ huy nghĩ coi có đúng không?
Tố Thuận, vợ lính miền Nam ở Phú An xin báo cáo cấp chỉ huy rõ.
Tình của một người vợ lính đối với thân xác của các chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thật là đáng khâm phụ, thật là cảm động.
Tôi đã không làm được một công việc đáng làm như chị Tố Thuận, nên đã viết bài này để cho quý vị độc giả xa gần cùng đọc và ngưỡng mộ việc làm của chị.
Việc làm của chị, cùng với việc làm của ông Nguyễn Đạt Thành bốc mộ tử sĩ chết trong các trại tù cải tạo, thật là một việc làm cao quý, đầy tình người, tình quân dân cá nước. Mong rằng, những công việc bốc mộ các tử sĩ sẽ đuợc nhiều người trong chúng ta hưởng ứng, để hương hồn các Tử sĩ của Quân Lực Việt Nam được ấm lòng nơi suối vàng.
Trở về thời điểm của những ngày cuối tháng 3 năm 1975, chắc các bạn đều đang có thắc mắc:
Lính ở trên tầu Hải Quân (bị chìm ở cửa biển Thuận An) thuộc về những đơn vị nào của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa?
Họ đã được bốc từ đâu về Thuận An?
Tại sao tầu lại bị chìm?
(Thuận An là một bãi biển, cách Huế khoảng 15km về phía Đông Bắc. Đó là một bãi biển dài và hẹp, nằm gần cửa sông Hương chẩy ra biển. Đây chỉ là một bãi biển dành cho tầu cặp bến, chứ không phải là bãi tắm. Mùa biển động kéo dài từ tháng 9 tới tháng 4.)
Để hiểu rõ thêm về câu chuyện chiếc tầu Hài Quân này, xin quý vị và tôi ngược dòng dĩ vãng, tìm hiểu thêm về chiến trận của Vùng I trong những ngày của Tháng 3 năm 1985:
Quân Đoàn I
(Theo tài liệu của WIKIPEDIA)
Quân đoàn I – QLVNCH đóng ở Huế gồm có các lực lượng như sau:
• 5 Sư Đoàn Bộ Binh: Sư Đoàn 1, 2 và 3 – Sư Đoàn Nhẩy Dù và Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến,
• 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân,
• 5 Thiết Đoàn và 13 Chi Đội Xe Tăng, Thiết Giáp,
• 21 Tiểu Đoàn Pháo Binh Diện Địa (418 khẩu từ 105 – 175mm),
• 1 Sư Đoàn Không Quân (96 chiếc máy bay),
• 3 Duyên Đoàn và Giang Đoàn, nhiều Liên Đoàn Địa Phương Quân cùng lực lượng Nhân Dân Tự Vệ Cảnh Sát.
Các đơn vị này đã được giao trọng trách phòng thủ Quân Đoàn như sau::
1. Từ Thị xã Quảng Trị đến sông Mỹ Chánh: Lữ đoàn 258 và 369 Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 913 Địa Phương Quân, Thiết Đoàn 17 và lực lượng địa phương quân của các chi khu quân sự Hải Lăng, Triệu Phong, Mai Lĩnh.
2. Từ bờ nam sông Mỹ Chánh đến cửa ngõ phía Bắc thành phố Huế có Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, Thiết Đoàn 20, các Căn Cứ Hỏa Lực Pháo Binh tại Đồng Lâm, An Lỗ, 2 Tiểu Đoàn của Liên Đoàn 914 Địa Phương Quân và lính cơ hữu của các chi khu quân sự Quảng Điền, Phong Điền.
3. Khu Tây Bắc thành phố Huế do Trung Đoàn Bộ Binh 51 (Sư Đoàn 1) và Địa Phương Quân của chi khu quân sự Hương Trà phòng thủ.
4. Khu vực thành phố Huế: Tại cửa Thuận An có Hải Đoàn 106, các Duyên Đoàn 11 và 12. Tại Thành phố Huế có 3 Tiểu Đoàn Địa Phương Quân, 5 Đại Đội Cảnh Sát Dã Chiến; Giang Đoàn 32 đóng tại bến Tòa Khâm.

Bản đồ Quân Khu I. Bãi biển Thuận An dài và hẹp, là chỗ đổ ra biển của Sông Hương (góc trái của phần chú thích I CORPS TACTICAL ZONE)

5. Khu vực đồng bằng sông Hương từ Tây Nam Huế đến Phú Lộc có binh lực mạnh nhất, gồm các Trung Đoàn Bộ Binh 1, 3 và 54 (Sư Đoàn 1), 1 chi đoàn của Thiết Đoàn 17, Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân, 3 Tiểu Đoàn của Liên Đoàn 914 Địa Phương Quân và lính địa phương quân của tiểu khu Thừa Thiên, các chi khu quân sự Hương Thuỷ, Phú Vang, Phú Thứ, Nam Hoà.
6. Khu vực ven biển từ Phú Lộc đến Bắc đèo Hải Vân được bảo vệ bởi Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù, 3 Tiểu Đoàn của Liên Đoàn 914 Địa Phương Quân thuộc chi khu quân sự Phú Lộc. Ngoài ra còn có 1 Hải Đội và hai Giang Đội đóng tại cửa Tư Hiền.
Vào khoảng đầu tháng 3 năm 1975, Việt Cộng bắt đầu chiến dịch “Xuân Hè 1975” bằng cuộc tấn công đoàn xe tiếp vận của QLVNCH trên đèo Hải Vân và trận đánh sập cầu An Lỗ trên đường số 1 ở phía bắc Huế.
Ngày 13 tháng 3 năm 1975, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng được triệu tập về họp tại Sài Gòn. Trong cuộc họp này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đột ngột yêu cầu Tướng Trưởng bỏ lại phần lớn Quân khu I, rút về phòng thủ vùng duyên hải miền Trung. Riêng Sư đoàn Dù phải được rút ngay về để bảo vệ Biệt khu Thủ đô.
Tướng Trưởng cố sức chứng minh rằng Quân đoàn I có thể giữ vững địa bàn quân khu. Với 2 Sư đoàn Nhẩy Dù và Thủy Quân Lục Chiến chưa sử dụng đến, quân đoàn có thể tổ chức lấy lại những địa điểm đã mất.
Nhưng mọi sự thuyết phục của Tướng Trưởng đều vô hiệu, Tổng Thống Thiệu đã quyết định như vậy rồi.
Trở lại Quân đoàn I vào chiều hôm đó, tướng Trưởng vẫn chưa dám phổ biến ngay quyết định của bỏ Quân Đoàn I của Tổng Thống Thiệu. Một mặt, ông muốn chứng minh cho Tổng Thống Thiệu thấy là mình đúng, do còn có thời gian và binh lực chưa bị tổn thất; Mặt khác, ông không muốn gây hoang mang cho cấp dưới khi chiến cuộc còn chưa ngã ngũ.
Do phải trả Sư Đoàn Nhẩy Dù về Sài Gòn, ông ra lệnh:
• Rút Lữ Đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến vào Quảng Nam thay thế Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù,
• Điều động Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến về đèo Phú Gia (Bắc Hải Vân) thay thế cho Lữ Đoàn 2 Nhẩy Dù.
• Tăng cường Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân từ Đà Nẵng cho Tỉnh Quảng Trị của Trung Tá Đỗ Kỳ
Từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3, Việt Cộng mở nihiều cuộc tấn công vào Quảng Trị, , khiến Trung tá Đỗ Kỷ phải di tản về Huế.
Đang ở Sài Gòn xin phê chuẩn kế hoạch phòng thủ mới, Tướng Trưởng vội bay ra vùng I và gấp rút tổ chức lại tuyến phòng thủ ở cánh Bắc của Quân đoàn I.
Tiếp theo kỳ tới.
TƯỞNG CHỪNG NHƯ ĐÃ CHÌM VÀO QUÊN LÃNG.
NGUYỄN KHẮP NƠI – 16 12 2010
www.nguyenkhapnoi.com
(Tiếp theo và hết)

Quân và Dân cùng di tản về Đà Nẳng.(Hình của Việt Báo)

Trung Tướng Ngô Quang Truởng đã điều quân phòng thủ lại Huế và Vùng I Chiến thuật như sau:
1. Tại tuyến đầu Mỹ Chánh – Thanh Hương – Kế Môn – Vân Trình: Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến; Liên đoàn 14 Biệt Động Quân; Liên đoàn 913 Địa Phương Quân và Thiết đoàn 17.
2. Phía Tây Bắc Huế: Lữ đoàn 480 Thủy Quân Lục Chiến được điều từ Đà Nẵng ra để giữ vùng đất từ Sịa đến Lương Điền.
3. Phía Tây Nam Huế: Sư đoàn 1 Bộ Binh, Liên đoàn 15 Biệt Động Quân và Thiết đoàn 7 bố trí thành hình vòng cung từ Núi Gió, Hòn Vượn qua Bình Điền đến Mỏ Tàu ôm lấy phía Tây.
4. Quốc Lộ 1 nối Huế với Đà Nẵng ở Phú Lộc: Lữ đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến và Liên đoàn 914 Địa Phương Quân
5. Phi trường Phú Bài: Thiết đoàn 20 phòng thủ vòng đai bên ngoài.

Trong khi Tướng Trưởng đang đôn đốc quân dân các cấp thực hiện kế hoạch phòng thủ, thì vào ngày 18 tháng 3, Tổng Thống Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng phải bỏ Huế, rút về phòng thủ ở Đà Nẵng.
Đêm 22 tháng 3, Tướng Trưởng chấp thuận cho Chuẩn Tướng Lâm Quang Thi, Tư lệnh Tiền phương, rút quân về Đà Nẵng.

Từ Huế về Đà Nẵng, có thể rút quân bằng hai cách:
• Đường biển: Qua các cửa Thuận An và Tư Hiền, từ đó lên các tàu của Hải đoàn 106 của Hải Quân Vùng I,
• Đường bộ: Theo Quốc lộ 1, men theo bờ biển qua Thừa Lưu, Lăng Cô dưới chân đèo Hải Vân để vào Đà Nẵng.
Lực lượng tiền phương đã được Tướng Thi cho lệnh rút quân theo ba hướng:

Hướng thứ 1: Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân, Trung Đoàn 5 thuộc Sư Đoàn 1, Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh Thiết Giáp, sẽ ra cửa Thuận An rồi theo đường thủy vào Đà Nẵng;

Hướng thứ 2: Trung Đoàn 3 thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh, Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến và Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân theo Quốc lộ 1 xuống đèo Hải Vân, về Đà Nẵng,

Hướng thứ 3: Trung đoàn 1 và 54 của Sư Đoàn 1 Bộ Binh, ra cửa Tư Hiền theo đường thủy vào Đà Nẵng.

Như vậy, tiến về Thuận An, đã có rất nhiều đơn vị, bao gồm Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Bộ binh, Thiết giáp . . . cùng di tản ra cửa Thuận An để chờ Hải Quân vào đón về Đà Nẵng.
Để kiểm chứng lại, chúng ta hãy đọc bài viết sau đây của Y sĩ (Đại Úy?) Phạm Vũ Bằng, thuộc Đại đội Quân Y của Lữ Đoàn 258 Thủy Quân Lục Chiến.
Lữ đoàn 258 đóng ở đèo Phước Tường, phía Nam của Thành Phố Huế và phía Bắc của Đèo Hải Vân, trên Quốc lộ 1. Khi được lệnh di tản về Đà Nẵng, 5 giờ sáng ngày 25 03 1975, cả Lữ Đoàn đã di chuyển theo Quốc lộ 1, qua sông Truồi xuống tới chân đèo Hải Vân vào lúc 6 giờ chiều và vào thành phố Đà Nẵng an toàn lúc 9 giờ tối. Liên Đoàn 15 Biệt Động Quân đóng ở phía Bắc đèo Phước Tường, cũng đã rút quân an toàn và tiến vào Đà Nẵng cùng một lượt với Thủy Quân Lục Chiến.
Vào sáng sớm ngày 26 03 1975, bác sĩ Bằng đã được lệnh đi đón nhưng chiến sĩ còn lại ở Thuận An về tới Đà Nẵng.
Với bút hiệu Bằng Phong, bác sĩ Bằng đã kể lại cuộc rút quân và đón quân bạn của ông, như sau:

“NHỮNG NGƯỜI LÍNH BỊ BỎ RƠI
Bằng-Phong.
“. . . Khi công tác tải thương hoàn tất vào lúc 9 giờ 30 đêm, qua máy C25, tôi nhận được lệnh của Tiểu Đoàn QY/TQLC phải trình diện TĐ ngay lập tức. Tôi đến BCH/SĐ/TQLC đang đóng tại căn cứ Non Nước vào lúc 10 giờ đêm, trình diện Y Sĩ Trung Tá Nguyễn Văn Thế. Tôi đứng nghiêm chào, Y Sĩ Trung Tá không chào lại theo lối nhà binh mà anh nắm tay tôi thật chặt, tay kia để lên vai tôi vỗ nhè nhẹ, tôi cảm nhận được tấm lòng đầy tình đồng đội, tình anh em của người chỉ huy, nó có sức mạnh hơn ngàn lời nói hay huy chương lúc này. Anh chỉ cái ghế đối diện, khi cả hai cùng ngồi, anh mệt mỏi nói:
“Hiện giờ Lữ Đoàn 147/Thủy Quân Lục Chiến đang kẹt tại bãi biển Thuận An, vì Hải Quân không vào đón, ngày mai Sư Đoàn sẽ mở một cuộc hành quân về phía Bắc đèo Hải Vân để tiếp cứu anh em mình, nhiệm vụ của toa là chỉ huy một toán quân y tá TQLC và 5 xe cứu thương do Liên Đoàn 71Quân Y tăng phái, mọi tiếp liệu và lương thực thì Đại Úy Sanh, sĩ quan tiếp liệu đã lo xong”.
6 giờ 30 sáng 26/3/75 tôi báo cáo lên TĐQY là chúng tôi đã sẵn sàng, tôi được lệnh chờ tại chỗ, tới 11 giờ thì lệnh hành quân được hủy bỏ mà tôi không biết lý do, nhưng toán quân y của tôi thì được lệnh ra bến thương cảng Đà Nẵng để đón Lữ đoàn 147/TQLC.
Khoảng 12 giờ, tôi thấy hai chiếc tàu “há mồm” cập bến, hai chiếc tàu này chở một trung đoàn thuộc SĐ.2/BB từ Chu Lai về Đà Nẵng, quân số của họ chỉ còn lại chừng ba đến bốn trăm người.
Vào lúc 2 giờ chiều thì một chiếc LCU từ từ cập bến, khi bửng tàu mở ra, tôi rất mừng vì thấy màu áo rằn ri quen thuộc, đi đầu là mấy anh em khiêng xác của 3 tử sĩ, xác họ được gói kỹ trong những chiếc poncho, một trong 3 xác này là Thiếu Tá Nguyễn Trí Nam TĐP/TĐ.4/TQLC, sau đó là Đại Tá Nguyễn Thế Lương LĐT/LĐ 147, ông bị thương ở chân, mặc dù được các quân y tá dìu xuống cầu tàu nhưng ông di chuyển rất khó khăn và đau đớn. Theo sau LĐT là bác sĩ Rậu, bác sĩ Khoa và toán y tá cùng khoảng 100 thương binh. Cuối cùng là khoảng hai trăm quân nhân thuộc các tiểu đoàn TQLC bị kẹt lại tại bãi biển Thuận An. Tôi nhanh chóng phân loại các thương binh rồi ra lệnh mang họ lên đoàn xe tải thương để về căn cứ Non Nước. Theo Bác Sĩ Bùi Văn Rậu ĐĐT/QY/LĐ.147 thì ông dược sĩ Lữ Đoàn và 4 ông y sĩ TĐ được ghi nhận là mất tích tại Thuận An. Buổi chiều, sau khi tải thương xong, tôi hỏi thăm tình hình, BS Khoa nói vắn tắt:
“Khi TQLC ra đến bãi biển Thuận An vào lúc 10 giờ sáng ngày 25/3/1975 thì được lệnh dừng quân để tàu Hải Quân vào đón, nhưng chờ đến 6 giờ chiều mà không có một chiếc tầu nào vào, LĐ 147 phải dàn đội hình phòng thủ để tiếp tục chờ tầu HQ thì VC tấn công, loạt đạn đầu tiên có 4 TQLC tử thương, anh em mang xác họ đến ĐĐQY, nhưng sau đó thì súng nổ khắp nơi, bị thương và tử thương rất nhiều nên chết ở đâu thì chôn ở đó. Sáng ngày 26/3/1975 khoảng hơn 8 giờ khi một chiếc LCU vào đón thương binh và BCH/LĐ thi 4 tử sĩ được mang lên tàu, nhưng xác của Đ/Úy Tô Thanh Chiêu ĐĐT/TĐ.4 bị rơi xuống biển nên chỉ cỏn 3.”
Ghi chú: chỉ trong vòng hơn 20 ngày, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã có đến ba bốn quyết định trái ngược nhau, làm cho các Tướng lãnh dưới quyền không làm sao có thì giờ để thi hành lệnh. Sau khi đã ra lệnh bỏ Huế rút về Đà Nẵng, rồi bỏ Đà Năng lui về miền Nam, thì ngày 29 tháng 3, khi tướng Trưởng rút khỏi Đà Nẵng trên tàu HQ-404, Tổng Thống Thiệu lại ra một mệnh lệnh qua điện thoại, yêu cầu tướng Trưởng quay lại tái chiếm Đà Nẵng. Tướng Trưởng đã chán nản, đưa tay lên trời mà trả lời:
"Bây giờ tôi lấy lính ở đâu ra để tái chiếm Đà Nẵng?”

Cả một Liên Đoàn 14 Biệt Động Quân, Trung Đoàn 5 Bộ Binh, Lữ Đoàn 1 Kỵ Binh Thiết Giáp đổ về Thuận An, mà chỉ có chừng ba tới bốn trăm người lính được đón về Đà Nẵng bằng hai chiếc tầu “Há Mồm”? Vậy thì có bao nhiêu lính bị chết, bị bỏ lại Thuận An?
Cả một Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến, rút về Thuận An chờ tầu Hải quân, chỉ còn lại có hơn ba trăm người lính trở về?
Theo như lời kể lại của Bác sĩ Khoa, từ sáng ngày 25 03 1975, cả Lữ đoàn 147 TQLC đã đến Thuận An, để ngồi chờ chết, ngồi làm những cái bia sống cho bọn Cộng sản bắn tan tác!
Than ôi! Thân xác những người Lính Việt Nam Cộng Hòa bị chết, bị bỏ lại Thuận An còn nhiều, nhiều lắm! Phải nói là cả ngàn,ngàn thân xác người Lính Việt Nam Cộng Hòa nữa đã bị sóng biển cuốn trôi, đã bị tan thành tro bụi dưới làn đạn đại bác dã man của bọn Việt cộng không tim không óc, chỉ biết bắn giết, tàn sát.
Ngoài những người lính di tản, chúng ta còn phải kể tới những người dân theo lính di tản nữa chứ! Biết bao xác người ngã gục tại bãi biển Thuận An mà không một ai biêt tới?
132 thân xác được người dân ở Thuận An chôn, chỉ là những thân xác mà người dân còn thấy và ở những địa thế có thể đem chôn được mà thôi, chứ không phải chỉ có 132 xác chết mà thôi. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn hy vọng rằng, những người lính và dân chúng còn lại, đã đi theo con đường khác để đến Đà Nẵng an toàn
Xin một lần nữa, cám ơn những người dân ở Thôn An Dương, Quận Phú Vang, Tỉnh Thừa Thiên đã giúp cải táng và xây lăng mộ cho 132 chiến hữu của chúng tai đã bỏ mình trên bãi biển Thuận An vào những ngày cuối tháng 3, 1975.
Xin một lần nữa cám ơn chị Nguyễn Tố Thuận, đã góp công góp sức hoàn thành việc bốc mộ, xây lăng cho các chiến hữu của chúng ta (trong đó có thể có thân xác của Trung Sĩ Lê Văn Hội, người chồng lính chiến của chị).
Hỡi vong hồn các chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ mình trên bãi biển Thuận An,
Lăng mộ mà đồng bào đã xây, là cho tất cả các anh, những người đã bỏ mình vì nước vào tháng 3 năm 1975:

PHỤNG VỊ
THẬP LOẠI CÔ HỒN, HIỂN HÁCH CHI MỘ

Các anh, thuộc các quân binh chủng khác nhau, tức là các “Thập Loại Cô Hồn”
Và các anh cũng rất xứng đáng là mang danh những chiến sĩ “Hiển Hách” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Hãy về lăng miếu mà hưởng phần hương hoa mà chúng tôi – những người nhờ sự hy sinh của các anh mà được sống còn tới ngày nay – dâng tặng.

Thưa quý vị, những người Việt Nam tỵ nạn hiện đang sinh sống bình yên tại Úc và khắp mọi nơi trên thế giới,
Các bạn muốn và thích làm chuyện từ thiện lắm phải không?
Vậy thì các bạn còn đợi gì nữa mà không đứng lên gây quỹ xây những lăng mộ cho các chiến hữu của chúng ta đã bỏ xác trên khắp các nẻo đường quê hương. Những người này đã không được may mắn sống còn như các bạn, nên đành phải chịu số phận hẩm hiu, bỏ xác ở những nơi không một ai biết tới, không một nén nhang, không một câu kinh để vong hồn họ được siêu thoát. Nhưng chính nhờ họ đã hy sinh mạng sống cản đường bọn Cộng sản Bắc Việt, nên chúng ta mới còn được sống cho tới ngày hôm nay.

Còn nhiều đoản khúc bi thương lắm bạn ạ!
Còn nhiều công việc từ thiện cho chúng ta làm lắm.

Chúng ta hãy đọc email sau đây của chị Bảo Châu, hiện còn ở Việt Nam, gởi cho người anh là Trần thiện phi Hùng. Anh Hùng gởi lại cho tôi:

“FREEDOM ISN'T FREE…SOMEONE HAD TO PAY FOR IT
Anh Hai,
Em đi tu thiền 4 ngày vùng Kom Tum, Pleiku, có biết được 1 tin cũng khá đau lòng:
Có một Trung uy Biệt Động Quân còn 1 thẻ trên vai (không phải thẻ bài) đề tên Trung Úy Nguyễn Văn Qúy, cùng 6 người lính (không biết là lính hay sĩ quan?), đã đánh nhau với Việt Cộng trên đường rút quân ở tại một nhà thờ nhỏ vùng Chuprong, gần Đức Cơ, cách biên giới Miên gần 30 cây số.
Bên lính BDQ chết 7 người, bên Việt Cộng chết mười mấy người.
Có lẽ tất cả đều chết hết nên không ai biết để lấy xác hay chôn cất. Tất cả đều bị chó hoang cắn xé ăn thịt không còn nguyên vẹn (vì người dân đã di tản hết ra khỏi vùng đó).
Vì T/U Quý còn bảng tên nên Ông Cha đã chôn dưới gốc 1 cây hoa Sứ đến nay hơn 35 năm rồi. Có những người đến rồi đi nhưng chẳng ai thông tin cho người khác biết.
Đến hôm nay em đến và được Ông Cha Cố già gần 90 tuổi kể lại, em có ghé chup hình nhà thờ đó và cây hoa sứ.
Anh có thể thông tin nầy cho ai từng biết đơn vị BDQ. Nơi đây là vùng Sư đoàn 23 do Ông Đại Tá Hạnh làm tư lịnh, nơi đây có rất nhiều lính sư đoàn 23 chết đựơc người dân ở đây chôn cất mà không biết tên họ là ai? …. Vì anh Qúy nầy còn bảng tên nên Ông Cha đã chôn riêng để không lẫn lộn với các xác khác.
Bản đồ vùng Pleiku, Đức Cơ.

Địa chỉ:
Nhà Thờ Đức Hưng, (ngày xưa gọi nơi đây là Thanh An) hiện giờ là Thôn 1, huyện Chuprong.
Nơi đây cũng gần Đức Cơ, gần biên giới Miên, chỉ cách khoãng 30 cây số.
Nơi đây dân chúng rất là nghèo nàn, phần nhiều là người dân tộc thiểu số.
Nơi đây còn có 28 làng người cùi mà khõng ai biết và giúp đỡ (có người cụt hết 2 tay 2 chân chỉ bò lếch mà thôi).
Tự sinh Tự Diệt, ít ai dám đến gần.
Chỉ có mấy Bà Sơ lâu lâu đến cho gạo muối, vì ở vùng nầy quá xa thành thị, người đi Từ Thiện chỉ đi nhưng nơi gần mà thôi; người ta không vượt gần 900 cây số, và những đọan đường đi rất là khó khăn;
Nơi đây em thấy rất là khỗ đó anh Hai, nếu anh đã giúp đỡ người nghèo thì nhõ em này xin anh 1-2 trăm để gom lại giúp đỡ người ta.
Nơi đây rất là lạnh lẽo; Tết lại sắp đến , họ rất là khỗ đó anh.
em sẽ gởi cho anh những hình ảnh nơi đây và góc cây sứ gìa cho anh sau ,
Bao Chau.”

13rd December 2010 10:25 am
Thân gởi anh Hùng,
Tôi cũng là một người lính Biệt Động Quân, đóng ở Pleiku và cũng đã từng tham dự những trận đánh ở vùng Đức Cơ.
Xin anh cho tôi biết thêm chi tiết về anh Quý để tôi phổ biến lên báo, hy vọng sẽ cho gia đìinh anh Quý hay.
Thân chào anh,
Nguyễn Khắp Nơi, Báo Việt Luận, Australia.
13 12 2010 – 5:30 Pm
Thân gởi anh Nguyễn Khắp Nơi,
Tôi đang ở gần Bạn chỉ cách 20 phút Lái xe và mỗi tuần đều đi Chợ Footscray ; Tuy nhiên Tôi chỉ thích làm chứ không thích nói nhiều như thiên hạ
Chỉ ngày trước ngày sau thì tiền tôi đã gời về cho em tôi và chỉ mấy tiếng sau thì đã vào bank account của Cha Xứ
Tôi cũng là Lính 12 năm 4 tháng đời Lính Hải Quân. Vì tình Huynh Đệ Chi Binh nên tôi đau lòng cho Bạn Lính; Tôi uất ức ai đối xử Tệ với bất cứ ai là Lính.
Anh Xem 1 file. doc có đầy đủ chi tiết trong attachment và muốn biết gì thêm mà tôi biết thì xin liên lạc qua mail (Tôi đã từ chối phõng vấn để đưa lên Radio cũng như TV Em Tôi thì lại càng không thể để ai biết dù là địa chỉ Email, vì em tôi đang ở VN)
Mong Bạn tìm được thân nhân của Tr/U Qúy và xin cho Tôi biết với.

Tôi mở hồ sơ của anh Hùng ra đọc, có đầy đủ hình ảnh về nhà thờ Thanh An, về cha xứ Mai Văn Lợi, nhất là tấm hình cây bông sứ, nơi chôn cất thi hài của Trung úy Nguyễn Văn Quý, xin đăng lên đây để quý độc giả được rõ.
Sau khi nhận được email của cô em đi tu, anh Hùng đã gởi tiền về để giúp giáo sứ và giúp những người cùi ở 28 ngôi làng xung quanh vùng Chuprong. Cô Bảo Châu đã cho biết số tiền của anh Hùng đã được sử dụng như sau:

“Anh Hai! đọc bài anh gởi. sao mà thấy thấm thía cho một kiếp người thời chiến!
Có đi tới đó, có nhìn thấy những nắm mồ không biết ai là ai ???? những hố chon vội vã và những xác người của hai phe thắng và thua giờ cũng chỉ là những xác không hồn vô tri không thân nhân không áo quan, chỉ là những lóp đất đào lên và phủ lấp qua loa không thành nắm mộ ! BUỒN lắm Anh ơi!!
Em đi chuyến này là để thử xem sức khỏe mình thế nào, vì đường xa 900 cây số.Ngồi bó chân từ 5 giờ chiều mà đến 10 giờ sáng hôm sau mới tới nơi. nghe bài hát của Nhật Trường, có những địa danh ngày xưa từng là chiến trường ác liệt, em cón có một ý nguyện nhưng em không hứa truớc: Nếu em tìm được một chùa nào trên đó, mời vài vị sư đến cúng cầu siêu cho các chiến sĩ.
Anh Hai, chiều nay em nhận được tiền anh gởi. Em đã gởi vào tài khoãn của nhà Thờ cho 28 Làng người Cùi 3 triệu, 2 triệu thì cho các trẽ mồ côi, 168.000 ngàn chụp hình, còn 1 triệu em định sẽ nhờ cha sứ làm một buổi lễ cầu nguyện, cầu siêu cho những vong linh chiến sĩ trong vùng đó chưa siêu thoát, anh thấy được không? Cho em biết ý kiến của anh….

Địa chỉ của nhà thờ là:
Thôn 1 Xã Thắng Hưng, Huyện Chuprong, Tinh Pleiku, Giáo xứ Đức Hưng, ngày xưa gọi là “Thanh An”. Liên Hệ để biết rõ chi tiết:
Cha Hùng đt: 09 18 61 5772. Xin tìm cha Cố để hỏi rõ chi tiết.
Huyện ChuProng địa danh nầy không thay đỗi, ngã rẽ Pleiku và Đức Cơ, ngã ba Hàm Rồng rẽ trái đi Pleiku và Đức Cơ rẽ phải là Ba Mê thuộc.
Anh Hai! Hôm nay em được biết, vị cha già ở Giáo Xứ Đức Hưng tên là Mai Văn Lợi, có một người em ruột, hiện giờ là Đức Cha Mai Thành Lương, hiện sống ở Orange County, me có điện thoại hỏi cha Hưng thì được trả lời là đúng, và ngày 28/12 này, Đức Cha sẽ về VN. Nếu các vị hảo tâm có lòng muốn giúp đỡ cho những người nghèo ở vùng xa xôi này, có thể hỏi thăm Đức Cha Lương và nhờ chuyển. Nhiệm vụ em biết gì thì em đã nói hết với anh hai rồi. Nói nhỏ với anh thôi nha, sao Đức Chao Lương lại không giúp được gì sự việc này đã hơn 35 năm trôi qua. Nói nhiều sợ bị tội vì mình cũng không hiểu rõ.
Chỉ mong gia đình anh Quý biết tin để về xin hài cốt anh Quý.”

Anh Hùng đã tỏ rõ ý định của anh khi gửi tiền về giúp cha sứ Giáo sứ Đức Hưng:
“Tôi, Trần thiện phi Hùng đã nhận được tin nầy và đã gởi lên “Diển Đàn Phố Nắng” và một số đoàn thể để mong lien lạc thông báo đến than nhân của Trung Úy BĐQ Nguyễn văn Qúy; Anh ta là Sĩ quan, không tốt nghiệp ở Trường Sĩ quan Thủ Đức thì cũng Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt và liên hệ đến Binh Chủng Biệt Động Quân.
Mục đích đầu tiên của tôi:
Mong lo cho người chết có được nơi an nghĩ cuối cùng, được có một nấm mồ để an nghĩ bên thân nhân nơi quê của những kẽ bạc mệnh hy sinh cho quê hương Tổ quốc
Tôi còn mục đích thứ hai, xin qúy bạn lưu tâm cho:
28 làng người nghèo gồm trẽ mồ côi và người cùi.
Xin đọc lại email đầu tiên của em tôi nói về nhưng người phải bò lếch đang đói khổ nầy. Mùa Đông nơi núi rừng biên giới Việt Miên nầy có những người đang mong vào sự giúp đỡ của những người hảo tâm (900km xa Saigon đường đi khá vất vã khó khăn).

Cha Cố Mai Văn Lợi, Giáo sứ Đức Hưng

Nhà thờ Thanh An. Cây bông sứ và cục đá mầu trắng đánh dấu nơi chôn thân xác của Cố Trung Úy Biệt Động Quân Nguyễn Văn Quý.

Chống Cộng thì cứ chống. Cứu người thì cứ cứu .
Xin qúy Vị lưu tâm đến những tin tức nầy để giúp ngừơi còn hơn tụng kinh xây Chùa hay nhà Thờ.
PS: Ông Cha Nhà Thờ là người Tu hành nhiều năm và cũng gìa lắm rồi chắc không phụ tấm lòng qúy vị muốn giúp người.
Tôi chỉ là người trượt Net chỉ thông báo mà thôi ( Em của Tôi biết trương mục của nhà Thờ nhưng tốt nhứt qúy vị lien lạc Cha Xứ thì chắc ăn hơn !!!)
tranthienphihung@gmail.com

GHI CHÚ:
Biệt Động Quân Quân Khu II gồm có 5 Liên đoàn như sau:
1. Liên Đoàn 21, gồm các Tiểu Đoàn 72, 89 và 96.
2. Liên Đoàn 22, gồm các Tiểu Đoàn 62,88 và 95.
3. Liên Đoàn 23, gồm các Tiểu Đoàn 11, 22 và 23.
4. Liên Đoàn 24, gồm các Tiểu Đoàn 63, 81 và 82.
5. Liên Đoàn 25, gồm các Tiểu Đoàn 67, 76, và 90.

Vào khoảng tháng 3 1975, Liên Đoàn 4 (Tiểu Đoàn 42, 43 và 44) và Liên Đoàn 7 (Tiểu Đoàn 32, 58, 41 và 85) cũng đã được gởi lên tăng cường cho vùng II.
Do đó, Trung úy Quý chắc chắn sẽ là sĩ quan của một trong những Liên Đoàn, Tiểu Đoàn đã ghi trên.

Tôi sẽ gởi bài này cho Tập San “Mũ Nâu” của Tổng Hội Biệt Động Quân (Hoa Kỳ), mong rằng các vị Tiểu Đoàn Trưởng của các Tiểu Đoàn nêu trên sẽ tìm ra đơn vị của anh, từ đó, cho gia đình của Trung úy Quý biết nơi chôn cất của anh.

Những người Việt Của Tôi, các bạn nghĩ sao?
NGUYỄN KHẮP NƠI.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *